Thứ Sáu, 23 tháng 3, 2012

Ở VƠRONHEZ NHỚ VỀ HOA PHƯỢNG

Hoa phượng chạy đi đâu rồi
Căn phòng lắc lư vài chiếc chuông gió
Chiếc giường ốm ho không thở
Tháng năm nằm liên miên

Ngồi với quyển sách cười
Cố tìm lại điều đã mất
Con hạc giấy lắc lơ hi vọng
Được bay về trời

Cánh hoa phượng giờ chẳng thấy trôi
Dích dắc trên bầu trời toàn mây trắng
Chạm vào cốc nước cam đã lạnh
Cuối bàn

Muốn chống mắt lên co ro
Thì ra bạch dương cũng vừa mở mắt
Tháng năm du canh hay du mục
Để hoa phượng về du ca...

TUẤN ANH

Thứ Năm, 23 tháng 2, 2012

CHIẾC BÀN

Đặt bình nước lên bàn
Đợi em đến đây ngồi với anh, uống một li nhỏ
Cất chiếc đĩa đựng socoolate vì đã hết tiền
Lau chiếc gạt tàn lấy sáng
Định tâm bàn làm điểm
Quay...


Ở 90 độ, em chả quan tâm tới việc này
Ở 95 độ, em phù phiếm
Ở 120 độ, cốt lõi không phải việc này
 Em đến đây để gặp anh
Cũng chỉ như khách qua đường

TUẤN ANH

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012

HOÀI KHÁNH -NGƯỜI DẮT BIỂN LÊN TRỜI

                                Đường đá xếp tận nơi
                                Những con chữ khó nhọc
                                Dắt biển lên với trời
                                              ( Đường ở đảo)
             Tôi đọc bài thơ này đôi lần, nhưng rồi vẫn muốn đọc lại để thấy được những khung cảnh khó nhọc của trẻ em ở đảo đi học. Đành rằng, các em đi học, ở làng chài phải đi theo "thuyền", khác với trẻ em đất liền.  Đường ở đảo mà trẻ em đi...  "nằm trong khoang thuyền", phải ngồi trên sóng chơi vơi, những con chữ khó nhọc cũng theo nhịp sóng, nhịp sóng, nhịp đời...
               "Dắt biển lên với trời" có thể thấy được cái tung tăng của trẻ nhỏ, có nhiều ngộ nghĩnh đầy ngẫu hứng, nhưng lại cho ta cảm giác bền bỉ, về một quá trình dám chấp nhận, để vượt lên chính mình.

              Dắt biển lên trời là tập thơ thứ tư của nhà thơ Hoài Khánh do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành năm 2012, cũng là tập thơ thứ tư về thơ thiếu nhi của anh.
              Sự duyên nợ với thơ, quả đã là gian khó, nhưng với thiếu nhi thì đúng là một thách thức. Trong phong trào đổi mới thi pháp theo xu hướng thơ Việt hiện nay, làm nhiều người quay lưng lại với thơ thiếu nhi, một số chuyên tâm cũng nửa đường đứt gánh. Đổi mới thi pháp, vẫn là một câu hỏi chưa có lời giải mà thơ thiếu nhi cũng nằm trong trào lưu ấy. Chúng ta có thể cách tân bài thơ cho người lớn thật dễ dàng nhưng với thiếu nhi, liệu có được chấp nhận?
              Làm thơ thiếu nhi, ngoài niềm đam mê, còn phải biết trung thành, với những đấng  "tối cao" là các em, và các em mới là vị giám khảo quan trọng nhất. Viết cho các em mà các em không nhận thì viết cho ai? Có lẽ, cái tiến (về mặt thi pháp) nên được cân nhắc lại. Chúng ta chỉ là một trong số đông, lẽo đẽo theo thi ca, mà Hoài Khánh là một ví dụ, trong ít ỏi những người còn bám trụ với mảng thơ của mình

              Tập thơ mỏng với 20 bài cho ba đối tượng từ mẫu giáo, nhi đồng và thiếu niên và cũng là những bài anh viết trong những năm gần đây về đề tài này. Điểm mạnh của thơ Hoài Khánh là anh có nhiều quan sát rất tinh tế mà lai dí dỏm:
                              Sáng ra biển hóa trẻ con
                              Sóng lắc ông trời thức dậy
                                               (Xuân trên đảo Bạch long vĩ)
              Thì ra nhà thơ đang hòa mình vào trẻ con để nhìn, khi đang thung thăng trên đoàn tàu với những "chuỗi còi thân thương" đang thả...
              Hay như:
                                Nhộn hơn trẻ nhỏ
                                Sấm không râu tóc
                                Tuổi bằng lũ nhóc
                                Vẫn được làm ông
                                                 (Sấm)
             Cái bí mật, nhưng rồi cũng không bí mật mà là "giấu sau nụ cười/là cái răng sún" (Bí mật), làm ta bỗng cười vang lên,  như mới tìm được của quí mà thực ra cũng đáng yêu nhường nào. Có một số câu thơ hay của Hoài Khánh, nếu đọc qua có thể ta không gặp, bởi những trải nghiệm cuộc đời mà trong thơ thiếu nhi đã được mã hóa.
                                 Bụng đựng ngàn năm tuổi
                                 Núi vẫn là núi non
                                               (Núi cùng em đi học)
             Cũng là một cái nghiêng đầu của chú bê láu táu với bước chân nhuênh nhoang đang đùa với nắng để rồi "giẫm lên bóng mình". Cái tuổi thơ có thể tròn trịa, nhưng cũng có thể hao gầy, và sự nhí nhảnh để lặp lại mình, chắc rằng ai cũng có.
            Ở bài thơ "Nếu Hải Phòng chỉ toàn người lớn" như một dấu chấm hết cho lứa tuổi trưởng thành, gần cuối tập thơ, nhưng nó cho ta một thông điệp gần như ngược lại. Những qui luật về trẻ- già tưởng như tan biến thì bỗng chốc được nhắc lại như dấu tích của sự luân hồi, buộc ta phải tự hỏi:
                                Nếu Hải Phòng chỉ toàn người lớn thôi
                                Không còn đâu trường Mầm non, Sao sáng
            "Không có ai phá cỗ đêm trung thu", có vẻ như đơn giản như một lời nói, nhưng với người già, như cánh cửa khát vọng đã khóa lại làm người ta liên tưởng tới sự cô đơn cho số phận nhỏ nhoi của đời người. Còn vẽ mặt trăng  có mắt thì chỉ có thiếu nhi mới làm được điều này. sự ngộ nghĩnh ấy làm ước vọng người ta hồi tỉnh, trái tim con người biết yêu và cũng biết lắng nghe...Sự phát triển của xã hội phải có sự hòa trộn của nhiều thế hệ để có sự cân bằng trẻ và già, và già với trẻ cũng là một mắt xích. Trước sự cô đơn người ta hay tự hỏi mà cách hành xử nhiều khi khó hiểu
                             Bác Bảo vệ chẳng có người để mắng
                             Biết tìm ai hái trộm táo ông trồng
            Câu thơ rất giản dị, nhưng lại nhiều suy ngẫm về vấn đề xã hội .
            Sự phát triển hai mặt của một vấn đề, đó không phải là sự bàn cãi mà là sự chấp nhận, vẫn cần phải biết sống chung, đó là thông điệp mà nhà thơ Hoài Khánh muốn gửi lại cho chúng ta về tập thơ này.

TUẤN ANH



Thứ Hai, 23 tháng 1, 2012

MÙI ĐÀN BÀ

Thong dong qua chiếc bàn kính
mùi đàn bà
bốc hương

Đã chạm vào ngón tay trỏ
(vừa nãy thôi, đã rửa sạch rồi)
mùi đàn bà trắng tinh
soi lên lại thấy đen hạt đỗ

muốn để sâu trong túi áo
nhưng lại sợ
mùi đàn bà
bốc hương...

TUẤN ANH

Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2011

CÁI CHIẾT ÁP BÉ NHỎ

        Vặn volume cho nhỏ lại gần số không, để âm thanh chiếc tivi không nghe rõ tiếng, chỉ còn những hình ảnh chạy nhằng nhịt theo thời gian.Tôi lúc này, đang cần sự yên tĩnh, không muốn chạm vào thế giới bên ngoài. Tôi đang nghĩ đến tôi, một vài sự cô đơn buông tỏa, chạy rần rật phía ngực trái. Mắt đăm đăm nhìn vào tivi mà đầu óc toàn nghĩ chuyện khác.Sự vô cảm trong tâm thức hiện hữu, tivi đang mở mà như không thấy, càng cố nhìn...lại càng không thấy. Tim tôi mơn man cánh đồng cỏ dại. Tôi thấy rõ tôi thẫn thờ trước màu xanh của cỏ...rồi tôi lại nghe ai đó gọi tên mình...cũng ở trong mơ...mà những thứ đó ở màn hình tivi đều ...không có.

          Chẳng biết sự lấn lướt thế nào, lòng tôi cứ trì xuống bâng khuâng...đâu đó...xa lắm, không sao nâng lên được.
          Tôi nghĩ về thời ấu thơ với khuôn mặt lấm láp như trăng rằm...một vài con đương nghuệch ngoặc của ngày xưa ai cũng đăm đắm vỗ về. Hình như sự lớn lao ở con người không phải là vật chất mà là cõi lòng đầy hay vơi của những nỗi niềm đã cũ.
           Khi bây giờ đây, một mình, ngồi bên tivi, lặng im, đành rằng mặt...vẫn nhìn nhưng lòng lại không thấy.
           Quá khứ đã làm ta ràng buộc, như một ngôi nhà, mà dẫu đi đâu, rồi cũng có lúc người ta trở về để xem xét...những vật dụng của mình còn hay mất, dù rằng hàng ngày họ vẫn nghĩ đến công ăn việc làm bình thường.
          Âm lượng của chiết áp về số không hoặc dương, chỉ trong tích tắc.Tập hợp của nỗi lòng được mở ra hay đóng lại tùy thuộc vào ngón tay mình có dám đưa đẩy hay không.
           Hiện tại tìm ở đâu được dễ dàng, những quá khứ không phải lúc nào cũng có. Quá khứ không phơi ra tiền bạc, nhưng nó gợi cho ta những linh nghiệm quí về cuộc đời sống tốt hơn.
Có những việc trong hiện tại ta không bằng lòng nhưng qua quá khứ , ngẫm lại, tính tới tính lui rồi lại bằng lòng.

           Quá khứ là cái thước đo đơn giản mà phần định tính thì không nhiều nhưng phần định lượng lúc nào cũng đầy ắp nỗi lòng làm ta say mê buộc phải quyết định theo chính kiến của mình.
           Cái chiết áp thành cái ranh giới để ta đi tìm mà đôi khi không dám liều lĩnh với những ngón tay quá cẩu thả,
           Là con người, đứng trước vật nhỏ bé này, có lẽ ta lại... nên nghĩ ngợi.

TUẤN ANH

Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2011

"Ô CỬA THÁNG GIÊNG" KHÚC TÂM TÌNH CỦA THỜI GIAN

        Sau gần 30 năm từ tập thơ "Cánh võng" do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành, nhà thơ Tuấn Anh mới có cho  mình một tập thơ riêng đầu tiên  "Ô cửa tháng giêng". Đây là tập thơ hội tụ những cảm xúc, tâm sự rất riêng của một nhà thơ ít nhiều gắn bó với thiên nhiên, cây cảnh.
        27 bài trong tập thơ này được tập hợp ở hai phần. Nhà thơ Tuấn Anh cho biết :"Phần thứ nhất gồm 20 bài là những sáng tác mới. cũng có một số bài được chọn đăng trên Tạp chí Cửa biển và một số tờ báo, song nhìn chung là thơ người lớn, thơ về thiên nhiên,  con người...Phần thứ hai chỉ có 7 bài là những sáng tác cách đây khá lâu, được chọn đăng trên các báo trung ương và địa phương cách đây gần 30 năm. Những bài thơ này đã xuất hiện trong tập "Cánh võng" cùng nhiều sáng tác của các nhà thơ khác. Đây là những sáng tác dành cho thiếu nhi.
         Hai phần thơ trong  "Ô cửa tháng giêng"  như thể hiện hai góc nhìn của con người Tuấn Anh. Một Tuấn Anh giầu cảm xúc với thiên nhiên, sống hòa cùng cây cỏ, với những thời khắc giao mùa và một Tuấn Anh đầy tâm sự trẻ trung, gắn bó với những diễn biến tâm lí của thiếu nhi. Thơ Tuấn Anh mượt mà, giàu cảm xúc, suy tư thể hiện qua những vần thơ trong bài  "Mùa muộn", "Mùa thu", "Bên ô cửa mùa hạ", "Ra giêng"...Phần lớn bài thơ trong phần 1 lấy cảm xúc từ các mùa trong năm và những chuyển giao của thời tiết, khí hậu và ngững biến đổi của thiên nhiên tác động đến tâm tư, thìn cảm con người.
        Giọng thơ Tuấn Anh hiền lành, giản dị. Nếu không biết, có lẽ người thưởng thức nghĩ đó là chút suy tư của một cô gái trước những gì đang diễn ra ở thời khắc giao mùa. Có thể nhìn thấy qua  "Mùa đến muộn đàn chim không về/Trễ nải cánh đồng quang liềm/Lúa không giòn thơm vụ/Nhánh mạ non hớt hải ruộng sau..."(Mùa muộn). Thơ anh e ấp như con gái, có lẽ vì thế mà tưng đối đông điệu với phong cách thơ Vũ Thị Huyền. Anh dành tặng một bài thơ  "Hoa cải ngồng trong mưa" cho nhà thơ Vũ Thị Huyền. Tựa đề ấy là tên tập thơ của nhà thơ nữ khá quen thuộc của Hải Phòng. "Nhớ/Chạy về bông hoa cải ngồng/Trong góc vườn mấy không mấy vết chân/Mùa đông trễ gần tới gốc/Bông hoa cải đu đưa..."
         Trong 20 bài thơ của phần 1 có 3 bài được Tuấn Anh viết theo thể thơ văn xuôi. "Khái niện mùa"; "Đêm cuối năm" và "Làm vợ", 3 bài thơ văn xuôi đều chúa chất nỗi lòng băn khoăn, những câu hỏi ẩn sau sự thể hiện bằng ngôn từ. Đọc lên, ai thấy cũng có cái gì đau đáu niềm riêng, chút xót xa, chút cô đơn, buồn tủi:  loá"Lấp loáng trong sắc màu phản quang, ảo giác quyến rũ của đất trời buông thả, em không nhận ra hình dáng chiếc bình hoa  cong cong uốn lượn với đường nét kì dị đến dịu dàng ngày xưa vô tình không để ý" (Khái niệm mùa); "Đêm cuối năm/ Cành đào Nhật Tân đốn đi ba đoạn/Người bán hàng quàn áo mỏng tang lem nhem ba lần hạ giá/Xoay nghiêng /Xoay dọc/ Cành đào vẫn những nụ hoa chúm chím giữa dòng người thưa thớt/ Người bán hàng rã rời , đôi mắt sKè sè cay, đêm đổ xuốn từng mảng lạnh." (Đêm cuối năm);  "Khắc khoải trộn một ít ô mai , trộn một ít bọt bia và khói thuốc/ Em tập quen dần cả bước chân trên nền gạch hoa xám không đều , nơi dấu chân từng lặng im" (Làm vợ).
        Sau những suy tư, tâm sự đầy nỗi niềm, ở phần 2,người đọc được tiếp xúc với một Tuấn Anh trong những vần thơ thiếu nhi cách đây gần 30 năm. Dù là thơ thiếu nhi, song phong cách  sáng tác của Tuấn Anhvẫn trở lại con người anh, hiền lành , giản dị mà đầy tâm tư, "Cô không là ánh sáng/Nhưng trong lòng cô như một bầu trời/Trong lòng cô có cái dìu dịu như ban mai mùa xuân có là gió mát mẻ của mùa thu..." (Cô  giáo em). Gặp lại ở phần thơ này là sự trở lại của những cảm xúc lấy từ thời gian, từ những khoảnh khắc giao thoa của đất trời như trong bài  "Chiều trên bãi biển Đồ Sơn"; "Đàn gà và buổi chiều"...
       27 bài thơ ở  "Ô của tháng giêng" có thể coi như những khúc tâm tình của thời gian , của những thời jhắc gioa mùa mà nhà thơ Tuân Anh muốn gửi đến những ai giầu cảm xúc cũng muốn đắm mình tìm một cõi riêng trong thế giới thơ của anh.

LINH CHI

Thứ Năm, 20 tháng 10, 2011

NHỚ NƯỚC NGA

        Tự nhiên lại nhớ nước Nga. Nhớ quá. Cũng vào khoảng thời gian này 15 năm trước, mình còn ăn bánh mì Nga, uống sữa Nga, còn tung tẩy trên đường hái những trái táo chín đỏ gặm nhồm nhoàm... Những chiều mùa hè tha thẩn nằm trên bãi cỏ, ngửa mặt nhìn hàng bạch dương cao vút, lòng mang mang nghĩ ngợi...Hình như trong nỗi buồn người ta hay nghĩ, trong lúc vui người ta càng nghĩ nhiều hơn. Những cái nghĩ ấy có gì đó vẩn vơ, không rõ nét lúc nhanh, lúc chậm, cứ lảng bảng trong đầu.
        Nước Nga giờ này người Viêt vẫn ở. Bè bạn cùng lứa với mình hồi bên đấy vẫn còn. Chẳng biết chúng nó phiêu bạt ở đâu, nhưng đích thị vẫn còn, chúng sinh sống bên đấy, lấy vợ bên đấy và sinh con đẻ cái. Chúng đã thành công dân Nga, có nhà riêng ở nước Nga và chiều chiều đi mua bánh mì Nga...còn nóng hổi.

       Mình ở Việt Nam, giờ nhớ nước Nga lòng buồn rũ. Nước Nga không sinh ra mình, nhưng nước Nga lưu giữ 10 năm tuổi trẻ của mình. Hồi ấy mình vẫn tuổi yêu, hi vọng còn cháy bỏng, chỉ cần ai đó, đốt lên, cách xa hàng 1000 cây số, lòng mình có thể... thành ngọn lửa.
       Ôi nước Nga thân yêu. Tôi nhớ nước Nga như nhớ quê mình đấy. Tôi đã ở nhiều nơi, đi dọc từ đông sang tây, từ bắc xuống nam, cả những vùng nghỉ mát Yalta giờ thuộc nước cộng hòa Ucraina mà tôi rất quí.

      15 năm rồi, tôi không còn gặp được nước Nga, đặt bàn chân lên cánh rừng Nga bạt ngàn xanh ngắt. Tôi không có lỗi lầm gì phải xa chúng, chỉ đơn giản, cuộc đời của tôi, như vận may quí hiếm đã cạn mà tuổi trẻ vô tình đón nhận. Tôi có vài nỗi buồn thoảng qua, làm chảy nước mắt. Cũng có lần tôi phải trả giá bằng những giọt mồ hôi của mình, nó cũng là qui luật có vay có trả, sự đền bù ở cuộc đời đôi khi không phải đi theo số dương.
      Nước Nga có làm tôi buồn, nhưng nỗi buồn ấy cũng là cơ may tuổi trẻ dễ hàn gắn, giờ với tôi nỗi buồn ấy như một vệt dung nhan mà ai đó xoa lên má, để bây giờ vẫn còn vết.

      Sắp sửa cuối tháng mười, nước Nga bắt đầu tuyết rơi, những bông tuyết li ti nhẹ bỗng, bay là là trong không gian làm tôi háo hức. Kí ức về tuyết với tôi có thể ngủ yên, không bao giờ dậy, bởi vì nước Nga không đến với tôi một lần nữa, mặc dù rất muốn. Được nói tiếng Nga, được ngồi trên xe điện chạy dọc thành phố, mà tôi cứ mơ... như có một ngày, một ngày nào đó tôi rểnh rang...thăm bạn bè,  những khuôn mặt ngày đó, đã già đi ít nhiều, nhưng cái nét xưa, chắc không thay đổi.

TUẤN ANH