Hiển thị các bài đăng có nhãn Đọc sách. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đọc sách. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2015

ĐỌC “ LY CÀ PHÊ THÁNG MƯỜI HAI” NGHĨ VỀ NHỮNG CẢM THỨC VÀ SUY NGHIỆM CỦA TUẤN ANH

     
 Sau tập thơ đầu “Ô cửa sổ tháng giêng”công bố năm 2005,  rồi “Giấc mơ không nơi cư trú” năm 2010. Vào đầu mùa thu năm Ngọ này nhà thơ Tuấn Anh vừa trình làng thêm một tác phẩm mới nữa, nhưng lần này là tập tản văn chứ không phải thơ như thường khi.

        Ngoài bìa sách hiện diện một cái tên không vương lối khoa trương, cũng chẳng điệu đàng, trầm bổng với những ngoa ngữ, mỹ từ; hay dùng chiêu hô quát,  hư ẩn bí hiểm, tác giả lựa đặt cho đứa con tinh thần của mình cái danh xưng số đếm  chân mộc, khiêm nhường: “Ly cà phê tháng mười hai”.
         Một cái tên bình thường vậy mà lại mang hấp lực mê dụ, khiến cho người tiếp cận không thể vô tình, sơ tâm bỏ qua. Vâng! Không thể vì hình như đằng sau tấm bìa màu đen chữ trắng, ở trong ruột sách người viết còn ủ cất, ươm gieo, ký thác, gửi nhắn điều gì đang muốn chia sẻ, mong được tâm giao thì phải. 
        Mang tâm thế phập phồng hồi hộp ấy, tôi liền đọc “ Ly cà phê tháng mười hai” một mạch. Tập sách không dày, chỉ vỏn vẹn 101 trang in khổ 13 x 19, dung chứa 27 bài tản văn ngắn. Bài dài nhất khoảng ba trang nếu in tràn chữ ra kín mặt giấy. Bài ngắn, chỉ hơn một trang là cùng. Văn chương vẫn biết đâu có nệ vào dài hay ngắn, mà điều cốt tử là cái hồn vía, cái nhân chất nén chứa bên trong mang chở được những gì.
        Tuy nhiên, với văn chương thì trước mọi cái sự ngắn-đoản, ít chữ hẻo dòng với người viết là một cuộc phải đối mặt chấp nhận thách thức, vì ở đó nó dễ lộ diện cái  tầm, cái trình sáng tạo và trữ lượng cảm xúc của chủ thể tác phẩm.
         Vậy mà nhà thơ Tuấn Anh “ rất bạo” dám thử sức đối mặt với cái “ khó” ấy, thậm chí chấp nhận rủi ro, chỉ một điều này thôi cũng đáng biểu dương dũng khí của anh rồi.
       Tôi được biết Tuấn Anh làm thơ từ tuổi mục đồng, và quen anh đến nay cũng gần tròn năm mùa lá rụng mà anh vẫn say mê chung thủy với Nàng Thơ. Thơ của Tuấn Anh ai đã từng đọc đều thấy cái tự đòi hỏi rất khắt khe đến mức cực đoan của tác giả này. Từng câu thơ, con chữ anh viết luôn với tâm thế “ quyết tử vì đạo” vắt cho kì cùng kiệt cảm xúc của mình. Mỗi tác phẩm thơ ở đấy không có sự nửa vời, đèm đẹp làm duyên mà nó đều hiện dấu của sự khổ công tìm tòi sao cho mang lại hiệu năng, dư chấn nhất. Anh luôn có cách liên tưởng, xây dựng hình tượng thơ mới lạ, không giống ai nhằm chuyển tải tín hiệu- điệu tâm hồn của mình gửi đến độc giả. Mong ước giãi bày của Tuấn Anh có làm ưng lòng người yêu thơ hay không điều đó có lẽ còn tùy thuộc vào gu tạng mỗi người, và thời gian sẽ kiểm chứng điều đó.
       Là một người đọc, với cảm nhận hạn hẹp của mình, tôi trân trọng cái mơ ước nghiêm túc của Tuấn Anh. Và hơn hết quý anh về cái nết không mượn thơ để lập ngôn, mà anh làm thơ chỉ để tìm tới điều thiện nguyện, được chia sẻ và dâng hiến tấm  tình của mình cho nghệ thuật và cho cuộc đời .
        Trước lúc viết những dòng này về tập tản văn của Tuấn Anh tôi muốn diệu vợi đôi lời về thơ anh, bởi sau khi đọc  “ Ly cà phê tháng mười hai” gập sách lại tôi  nghĩ Tuấn Anh không chỉ có duyên với thơ mà còn rất có tình cả với văn xuôi nữa.
         Đọc hai mươi bảy bài trong tập tản văn “ Ly cà phê tháng mười hai” của Nhà thơ Tuấn Anh, tôi như không chỉ được đọc một áng văn giản dị, chắc, hoạt, giàu tâm trạng mới lạ mà còn được đọc một chuỗi tác phẩm thơ. Thơ văn xuôi. Vâng! Cảm nhận đó có thể là chủ quan của riêng tôi, nhưng từ cách định đề, lập tứ cho đến thủ pháp nghệ thuật đều mang đậm chất thơ. Mỗi tác phẩm riêng lẻ trong “ Ly cà phê tháng mười hai” tác giả viết với một lối độc thoại tưởng là rất tùy hứng, như bâng quơ, nhớ đâu ghi đó. Nhưng từng khúc, đoạn đều bắt nguồn từ nhôi nút của cảm xúc và có chủ đích, ý tưởng cả. Tác giả gửi đến người đọc nỗi niềm trăn trở bấy lâu lặn sâu trong góc khuất ký ức, bây giờ chợt bừng thức để  rồi bật lên thành điều chiêm nghiệm của mình. Trong tản văn “ Dọn dẹp” Tuấn Anh kể lại một chuyến đi anh được phân một căn phòng dĩ nhiên trước đó đã có người ở. Còn bây giờ anh là một chủ nhân mới. Anh phải dọn dẹp, bày biện trang trí, xếp đặt lại theo trật tự ý mình. Rồi tác giả ngộ ra rằng: “ Dọn dẹp căn phòng, đâu có phải là cất đi, mà có khi lại là sự bày ra để mà chiêm ngưỡng”. Tôi đọc và thích những đoạn tự giác ngộ của tác giả, ví như : “ Mọi định giá cuộc sống đều phải đánh đổi và trả giá, chẳng có gì là miễn phí cả. Hay: “ Tiền chỉ là một giá trị trong rất nhiều thứ giá trị mà ta vẫn chưa hiểu, đôi khi, cầm trên tay, mọi thứ na ná như nhau, ta tưởng rằng cùng một cách quy đổi, nhưng độ rung cảm thì thật khác…Thử hỏi, ở đời, viên thuốc nào có chức năng vậy, để mua lấy một ít viên để dành…anh Hiện nhỉ?- Tản văn: “ Anh Hiện à”. Trong tản văn “ Cái chiết áp bé nhỏ” có câu: “ Hình như sự lớn lao ở con người không phải là vật chất mà là cõi lòng đầy hay vơi của những nỗi niềm đã cũ”. Rồi những dòng tiếp theo thật gợi mở: “Âm lượng của chiết áp về số không hoặc dương, chỉ trong tích tắc. Tập hợp của nỗi lòng được mở ra hay đóng lại tùy thuộc vào ngón tay mình có dám đưa đẩy hay không. Hiện tại tìm ở đâu được dễ dàng, những quá khứ không phải lúc nào cũng có”.
      Còn nữa những dòng văn ăm ắp tình đời tình người như trong các tản văn: “ Tháng năm ngắn ngủi;  Một mình; Kèn saxophone và người nghệ sĩ…” là những dòng văn đáng đọc để bâng khuâng hay xao động cõi lòng lữ thứ, lữ khách, ngoảnh lại nhìn bước chân qua hay đau đáu dõi theo con đường dằng dặc trước mặt đang dợm chân bước tới…
       Ngồi im lặng mà ngẫm lại những đoản bút của nhà thơ Tuấn Anh, tôi chỉ nói một điều gía như… Anh kiệm chữ đi chút nữa, bớt được những thừa thãi ở đoạn này, dòng kia đi chút nữa thì có lẽ văn anh còn sáng, đọng, long lanh, lay thức cảm động hơn nhiều. Dù sao đây cũng là một áng văn một tập sách đáng được nâng niu trân trọng./.
        
                                                              Kiến An ngày đầu Đông năm Ngọ

                                                                             Vũ Quốc Văn 

Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

CHÚT ẤM LÒNG VỚI LY CÀ PHÊ THÁNG MƯỜI HAI

Ly cà phê tháng mười hai là tập tản văn đầu tiên nhưng là đầu sách thứ ba và mới nhất của nhà thơ Tuấn Anh, sau hai tập thơ Ô cửa tháng Giêng và Giấc mơ không nơi cư trú. Khi tặng cho tôi tập sách này, nhà thơ Tuấn Anh chia sẻ: “Đây là những gì tôi thấy được, cảm được từ hầu hết các chuyến đi qua những miền đất nước và cả những ký ức của tôi, về tôi trong những tháng ngày qua. Tôi hi vọng được độc giả đón đọc, mến yêu như những trang thơ tôi đã từng viết”.
Gồm 27 tản văn-là tập hợp những suy tư của nhà thơ về tình người, tình đời, Ly cà phê tháng mười hai đem đến cho bạn đọc một cái nhìn đong đầy sự ấm áp, thân thiện-một sự trải lòng trong thẳm sâu những trách nhiệm của tác giả đối với cuộc sống này. Tiếp cận sự việc, sự vật bằng đôi mắt nhìn rất thơ, được viết nên bởi giọng văn nhẹ nhàng, dí dỏm nhưng ăm ắp trở trăn, đồng thời lại được sắp xếp theo một trình tự dụng tâm của người viết, các tản văn như Chuyện đi tàu, Dọn dẹp, Khoảng lặng, Đêm Ba Hòn, Ngồi với Trịnh, Nhớ nước Nga, Tiếng đàn đêm, Quá khứ, Những nhánh rẽ… đã cùng nhau đem đến cho bạn đọc bời bời xúc cảm, nghĩ suy. Đọc tản văn Quá khứ, chắc hẳn độc giả sẽ không thể không dừng lại trước những câu chữ sâu lắng suy tư này: “Quá khứ đâu chỉ nằm sâu trong bức ảnh, mà nằm ở chiều sâu con người của tấm ảnh đó. Những tấm ảnh mới có đẹp, nhưng với tôi thành xa vắng, chứ không phải của mình. Có quá khứ qua đi, tưởng rất đơn giản, như vừa trút được gánh nặng, nhưng có quá khứ qua đi, làm mình không cầm lòng được. Mọi vật trên đời đều có ý nghĩa của nó, nếu nhìn sâu vào từng góc cạnh, đều có một linh hồn…”. Còn trong “Gửi về bên kia sông”, nhà thơ Tuấn Anh đã gửi những lời đượm màu triết lý: “Trời mưa, làm mình buồn đi đôi chút, bởi cuộc gặp sẽ không thành. Nhưng biết ở đâu đó, cũng có người mong mưa và họ đã toại nguyện. Cái mất của người này, là cái được của người khác. Trời mưa có thể mang tới nhiều số phận khác nhau mà mỗi con người phải gánh chịu. Mưa không có lỗi lầm và con người cũng không có lỗi lầm. Lỗi lầm chính là sự mong mỏi, là kỳ vọng mà bất cứ người nào khao khát. Khao khát để yêu thương, khao khát có hạt mưa đúng lúc,làm lòng mình nguôi ngoai, khi quá khứ nỡ vô tình, để mình lại thấy rằng… hữu tình…”.
Đọc nhiều lần Ly cà phê tháng mười hai, tôi vẫn luôn thích cái cách nhà thơ nhìn nhận tất thảy mọi vấn đề trong cuộc sống. Tôi đọc được qua từng câu từng chữ nét giản đơn chân thật, đọc được cả sự ấm áp tình thân và hơn hết thảy, đó là một trái tim yêu đời và rất có trách nhiệm với đời. Và, chúng ta, trong những sớm mai ngậm mật heo may hay trong những khoảng chiều bảng lảng sương khói, dành đôi chút thời gian đọc những dòng chữ này, hẳn nhiều người vẫn thích: “Vẫn tách cà phê cũ, vẫn con người cũ nhưng ngồi đây, lòng lại thắc thỏm… Khác và giống có thể không cho kết quả, nhưng lại cho nỗi buồn. Mạch thời gian cũng như một ô cửa, khi ta bật dậy ngắm nhìn, rồi lại bật dậy thấy mình… khác. Cái khác hình như cũng là một hành trình để mình cần nghĩ suy…?”.

THÁI BÌNH


Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2014

ĐỌC " LY CÀ PHÊ THÁNG MƯỜI HAI "

Tình cờ tôi đọc Tuấn Anh lần đầu trên FB và tự nhiên có tình cảm văn chương với mấy đoạn tản văn của anh. Gần đây anh tin cậy gửi các trang viết cho tôi góp cảm tưởng. Bản thảo không dày lắm - tất cả gồm 27 đoản tác, bài dài nhất không hơn bốn trang (nay được in thành cuốn sách LY CÀPHÊ THÁNG MƯỜI HAI do Hội Nhà Văn xuất bản). Cảm tưởng chung khi đọc bản thảo là sự thể nghiệm một phong cách viết song song với một đoạn hành trình của tác giả - con người của hôm nay vừa kiếm sống vừa giải khuây sau công việc với dăm lạc thú thường ngày như uống trà, nghe nhạc, ra quán cà phê một mình hay ngồi với bạn…Nếu chỉ là những đoạn bút ký bình dị về các sinh hoạt phần nhiều lặp lại theo thói quen thì người đọc sẽ xếp các trang viết lại như xếp một tờ nhật báo. Nhưng đọng lại từ các giòng chữ mô tả và tự sự ấy là những giờ khắc chiêm nghiệm hay một thoáng trầm tư . Đó là lúc ý thức làm bước nhảy lùi hoặc chao cánh lượn quanh các hiện tượng và diễn biến của đời sống – đó cũng là lúc ngòi bút tập đồng hành với văn chương và tư tưởng.

   Vì nghề nghiệp, TA di chuyển giữa hai không gian khác biệt : đất liền và sông biển. Từ   đoản văn mở đầu Chuyện Đi Tàu đến bài viết cuối Nhìn về Đất liền tác giả tấu đi tấu lại khúc nhạc chủ đề hai bè “ĐẾN VÀ ĐI” mà sân khấu chính là khoảng nội tâm lênh đênh giữa đất và biển.

“Đặt ba lô lên tàu, ngồi ngắm biển chòng chành mà  nao lòng…Biển xanh, nhưng sóng có yên lành, khi những suy nghĩ của chúng ta cứ đầy theo năm tháng?... Đến và  đi chỉ  là  bước dạo đầu chấm phá trong những cuộc mưu sinh” (6-7).

“Càng nghĩ,càng thấy lòng trống rỗng…Đất liền…là những cánh chim, đang lưu giữ những mảng ký ức khổng lồ của cuộc đời, có nguy cơ vuột bay mất...Ngồi trên tàu, chút ưu tư cứ lắc dần trong trà nhỏ mà không uống nổi, một khoảng không vời vợi và lạnh lung.” (100-101).

   Trùng khơi vô định như các kiếp phận bị ném vào tương lai bất trắc đầy những biến động ngoài tầm hiểu biết. Kinh nghiệm này được tác giả tóm lược trong vài câu rải rác : “Kết thúc và bắt đầu không phải lúc nào cũng nằm trong dự định và sự toan tính. (38); hay là “Ta…như con lắc, đu trên những sợi dây chùng chình số phận, chỉ sợ những sợi dây mỏng manh kia một ngày sẽ đứt…(42). Nhưng đất liền cũng không khá hơn nếu chẳng có gì ngoài các thao tác vô vị, nhàm chán từng ngày.  “Cuộc sống cứ lặp lại những chu trình vô thức mà chẳng ai tìm hiểu ý thức (76). “Mỗi ngày vẫn những con người cũ, giọng nói cũ và tính cách cũ. …Thử hỏi, thế giới có gì sáng tạo không, khi mỗi ý thức lập trình vẫn chẳng thay đổi.” (13) Nỗi ám ảnh ấy khiến tác giả vỉết ra những chữ quẩn quanh kinh nghiệm và sự thật bình thường, “Đi hết một con đường, mỗi ngày ta lại quay trở về vị trí xuất phát.”(13)


   Cũng như phần đông thị dân các nước trên đà hội nhập lối sống toàn cầu hóa, người Việt đang bị phân hóa tâm lý mạnh. Với những ai đã sinh sống ngoài quê nhà (tác giả lúc thanh xuân từng sống nhiều năm bên Nga) hai cực quá khứ - hiện tại  còn giằng co với nhau như cánh cung hiện sinh thường trực, ngầm chứa một lực đẩy bất ngờ đe dọa thế cân bằng vốn đã chông chênh.  Qua từng trang viết, tác giả thủ vai nhân vật khá tiêu biểu với những ai còn vương vấn “con đường cũ…, cây gạo…, quán nhỏ ngã ba…, lối mòn dĩ vãng…” (82) đồng thời phải truy tìm ý nghĩa hay hạnh phúc bị giao động và đe dọa vì nhịp độ cuộc đời hôm nay, phải “ tìm một nhánh rẽ để ổn định… giữa những cấu trúc chằng chịt của đô thị mới” (84).
 
   Đặc biệt hơn ở ngòi bút Tuấn Anh - vốn là một thi sĩ đã cho ra đời hai tập thơ - cô đơn với khoảng lặng là nhu cầu thiết yếu của óc tim, là “thời gian cho  độ chín cảm xúc và lý trí” “Khoảng lặng ấy như một hồ nước đục,… cần phải để cho lắng lại…”chờ “lộ ra nhiều khoảng sáng”(15). Hay nói cách khác “ tôi lúc này, đang cần yên tĩnh, không muốn chạm vào thế giới bên ngoài.” (23) để miên man suy tưởng và soi chiếu chân dung kín đáo của mình. Tuy vậy giữa mớ thao thức và khao khát không tên, ký ức của những chặng giang hồ lại hiện về: cành phượng cũ, tuyết nước Nga, một mái tóc, một đôi mắt…như màu sắc cầu vồng lấp lánh.. Cho dù tác giả có tâm sự ở cuối sách một ý nguyện rất đạo cốt :“tập viết về …khoảng không và tập nghĩ về… khoảng không.”(101), cái nghiệp thơ văn - đồng thời cũng là lạc thú – là mối duyên tình khó dứt.

   Bằng chứng là tác giả đã sắp xếp và viết lại bản thảo, chăm chút khuôn nắn những câu chữ chưa hài lòng trước khi cho xuất bản. Mặc dù một tập hợp tản văn hay bút ký chưa phải là một nghệ phẩm thuần nhất mà chỉ là mớ chấm phá cho bức tranh dang dở của một diện mạo văn học còn trong tiến trình thử nghiệm. Nhưng tham quan công trình chữ nghĩa còn ngổn ngang vật liệu này, người đọc quan tâm sẽ nhận ra vài nét chân dung đáng ghi nhớ của ngòi bút mang tên TUẤN ANH. 

                                                                                                          CHÂN  PHƯƠNG
                                                                                                     Hingham Bay, 9-24-2014


Chủ Nhật, 1 tháng 7, 2012

NGỔN NGANG VỚI "GIẤC MƠ KHÔNG NƠI CƯ TRÚ"



          Nhà thơ Tuấn Anh, hội viên Hội nhà văn thành phố Hải Phòng gửi tặng tôi hai tập thơ của anh, đó là tập thơ “Ô cửa tháng Giêng”, NXB Hải Phòng ấn hành năm 2005 và tập thơ “Giấc mơ không nơi cư trú” NXB Hội Nhà văn ấn hành năm 2010. Tôi còn được biết anh vừa giành ngôi “á quân” cuộc thi thơ về đề tài Hoa phượng lần đầu tiên do Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật thành phố Hải Phòng tổ chức năm 2012.
          Không ồn ào, Tuấn Anh lẳng lặng chiêm nghiệm theo cách riêng của anh trong thơ. Nếu ở “Ô cửa tháng Giêng” anh chia đôi cuộc đời mình giữa sự lãng mạn, mơ mộng của tuổi mới lớn với sự cả nghĩ của người đang vào độ trung niên. Sự thơi thới hồn thơ qua “Ô cửa…” nhanh chóng thay thế bởi sự ngổn ngang con chữ trong “Giấc mơ không nơi cư trú”. Nó ngổn ngang là vì mỗi bài thơ, mỗi câu thơ khiến người đọc sau mỗi lần đọc lại phải nghĩ theo hướng khác trước, chẳng giống ấn tượng ban đầu. Một thứ thơ không theo bất cứ cấu trúc nào, chẳng dễ đọc và nếu không kiên trì thì người đọc dễ để thơ anh sang một bên, cùng với những nhà thơ viết theo lối “hậu hiện đại”, để đi làm việc khác.
          Nhưng may thay, thơ Tuấn Anh còn có chỗ để neo vào cảm xúc của người đọc truyền thống như tôi. Ấy là tôi nghĩ chủ quan thế. Nhà thơ có nhiều tâm tư với công việc sáng tạo, nhất là với thơ: “Con diều chằng đụp/Buông làm sao vào thăm thẳm/Trong cơn mơ tối om/Biết khi nào sáo sẽ gọi về” (Đợi mơ). Hơn một lần anh mong ước vượt qua những lối viết, nếp nghĩ cũ để vươn tới chân trời vinh quang của thơ: “Đợi khuya/tiếng đồng hồ thũng thẵng gọi/những giấc mơ thật/vinh danh”. Quan niệm thơ của anh rõ ràng: “Lùa bàn tay cánh đồng phục sinh/đặt lại nhân quả/mong thoát xác/nằm ở bên này giấc mơ” (Tự bạch). Như thế là Tuấn Anh đã dấn thân vào sáng tạo, sáng tạo ngôn từ và hình thức trong thơ. Sự sáng tạo ấy có thành công hay không còn đợi thời gian, nhưng anh dám tự tin: “Đừng vin cớ hy vọng mà ngóng đợi/Thì thời gian sẽ xanh hơn” (Mơ về một đêm tháng Mười).
          Nói thơ Tuấn Anh còn neo vào cảm xúc của người đọc là vì có những câu thơ với những hình ảnh rất đẹp và gợi: “Rồi mùa thu cũng sẽ về thôi/Cũng rủ rỉ hương thơm/cũng hoe hoe vàng đầu ngõ/Em lại vẽ con diều chấm đỏ/Thả vào chiều tơ vương” (Những bài thơ ngắn.Bài số 7). Anh viết rất hay về nỗi nhớ thời tuổi thơ: “Chiếc cặp bím ô ăn quan/Liếc ngang/Mòn ngã ba hoa mào gà nở (…) Thời gian mải chơi/Thời gian chờ đợi/Cong cong hơi thở/Bay” (Nhớ). Thuở học trò, tình yêu đầu đời dù đó là cảm tính thôi, chỉ với con mắt “liếc ngang” bím tóc hồn nhiên, thế mà đã đợi đến “mòn ngã ba hoa mào gà nở”. Chữ “mòn” ấy sao mà tinh tế, tạo cho hình ảnh thêm gợi, đẹp và thơ mộng xiết bao.
          Trong “Giấc mơ không nơi cư trú” đầy ắp sự ngổn ngang. Quá khứ, thực tại và những cái sắp đến tất thảy đều ngổn ngang. Tình yêu, nỗi niềm, tâm trạng, giấc mơ, bầu trời, mặt đất, con đường, cánh diều, quán cà phê, rồi cả cái chết… ngổn ngang những liên tưởng. Và mông lung. Khi thì nhà thơ triết lý: “Cần phải lắng nghe, mới hiểu mọi điều/Cần phải làm, mới tìm ra lẽ phải/Muốn làm người/Còn học cách hy sinh.” (Ghét). Khi thì buông xuôi: “Chuyện trên trời dưới bể/cũng chẳng kể làm gì/cứ để lộn xộn như thế lại hay/Tôi, cũng đỡ phải mất công/những lời kể lể và thời gian phân định./Những cái rạch ròi nhiều khi cũng chẳng có nghĩa” (Độc thoại trước gương tình yêu). Cũng có khi anh tạo ra thứ ngổn ngang vô lý, nhưng đọc kỹ lại có lý là bởi vì tâm trạng của kẻ thất tình: “Áo dài em cắt đi một nửa/Xe hai bánh em tháo ra còn một/Trên đường sấu buồn/Em thành người khác” (Bông tầm gai). Thơ Tuấn Anh viết theo chủ trương hiện sinh, tích hợp mọi sự vật, hiện tượng, cả ảo và thực để tạo nên tâm trạng thơ, song anh lại tách thơ khỏi cảm xúc. Điều đó tạo hiệu ứng cho người đọc ngẫm ngợi, nhưng không phải ai cũng giải mã được những điều anh đã mã hóa vào thơ.
          Một điều khá thú vị trong “Giấc mơ không nơi cư trú” là hình ảnh chiều và đêm. Rất nhiều bài thơ, câu thơ chứa những thi ảnh này được Tuấn Anh nhắc tới. Nào là “Thôi cứ kệ, chiều cũng về thơi thả”,Hình như đêm chỉ có một nửa. Còn một nửa lạc đâu phía ban ngày”, rồi “Hình như đáy đêm chẳng có người nào/Họ đang nằm ở tầng tương lai”… Có những bài thơ viết hẳn về  chiều và đêm: “Ghi chép về chiều”, “Gọi chiều”, “Mơ về một đêm tháng Mười”, “Ngôi sao đêm”… Có lẽ, ở khoảng thời gian ấy con người có nhiều tâm trạng và nghĩ suy, và như thế là ngổn ngang lắm.
          Lặng lẽ làm thơ, dấn thân vào sáng tạo, nhà thơ Tuấn Anh có thể thành công với con đường riêng của mình. Nhưng tôi vẫn mong được đọc anh với những câu thơ giàu thi ảnh, không bị “mã hóa”, như “Chạy suốt chiều mảnh sân con/Mặt trời ủ trong vòng tay bí ẩn/Chiều bắt được/Chú ve non gẫy cánh vô hồn” (Cuối hạ); hay như: “Mới hoe vàng thu mở ngỏ/Lạnh lẽo tiếng sáo diều khuya (…) Rụng một trái vàng cuối nắng/Chạng vạng chiều lững thững rơi” (Với thời gian)./.
Hà Nội 1-7-2012


 NGUYỄN ĐÌNH XUÂN

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012

HOÀI KHÁNH -NGƯỜI DẮT BIỂN LÊN TRỜI

                                Đường đá xếp tận nơi
                                Những con chữ khó nhọc
                                Dắt biển lên với trời
                                              ( Đường ở đảo)
             Tôi đọc bài thơ này đôi lần, nhưng rồi vẫn muốn đọc lại để thấy được những khung cảnh khó nhọc của trẻ em ở đảo đi học. Đành rằng, các em đi học, ở làng chài phải đi theo "thuyền", khác với trẻ em đất liền.  Đường ở đảo mà trẻ em đi...  "nằm trong khoang thuyền", phải ngồi trên sóng chơi vơi, những con chữ khó nhọc cũng theo nhịp sóng, nhịp sóng, nhịp đời...
               "Dắt biển lên với trời" có thể thấy được cái tung tăng của trẻ nhỏ, có nhiều ngộ nghĩnh đầy ngẫu hứng, nhưng lại cho ta cảm giác bền bỉ, về một quá trình dám chấp nhận, để vượt lên chính mình.

              Dắt biển lên trời là tập thơ thứ tư của nhà thơ Hoài Khánh do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành năm 2012, cũng là tập thơ thứ tư về thơ thiếu nhi của anh.
              Sự duyên nợ với thơ, quả đã là gian khó, nhưng với thiếu nhi thì đúng là một thách thức. Trong phong trào đổi mới thi pháp theo xu hướng thơ Việt hiện nay, làm nhiều người quay lưng lại với thơ thiếu nhi, một số chuyên tâm cũng nửa đường đứt gánh. Đổi mới thi pháp, vẫn là một câu hỏi chưa có lời giải mà thơ thiếu nhi cũng nằm trong trào lưu ấy. Chúng ta có thể cách tân bài thơ cho người lớn thật dễ dàng nhưng với thiếu nhi, liệu có được chấp nhận?
              Làm thơ thiếu nhi, ngoài niềm đam mê, còn phải biết trung thành, với những đấng  "tối cao" là các em, và các em mới là vị giám khảo quan trọng nhất. Viết cho các em mà các em không nhận thì viết cho ai? Có lẽ, cái tiến (về mặt thi pháp) nên được cân nhắc lại. Chúng ta chỉ là một trong số đông, lẽo đẽo theo thi ca, mà Hoài Khánh là một ví dụ, trong ít ỏi những người còn bám trụ với mảng thơ của mình

              Tập thơ mỏng với 20 bài cho ba đối tượng từ mẫu giáo, nhi đồng và thiếu niên và cũng là những bài anh viết trong những năm gần đây về đề tài này. Điểm mạnh của thơ Hoài Khánh là anh có nhiều quan sát rất tinh tế mà lai dí dỏm:
                              Sáng ra biển hóa trẻ con
                              Sóng lắc ông trời thức dậy
                                               (Xuân trên đảo Bạch long vĩ)
              Thì ra nhà thơ đang hòa mình vào trẻ con để nhìn, khi đang thung thăng trên đoàn tàu với những "chuỗi còi thân thương" đang thả...
              Hay như:
                                Nhộn hơn trẻ nhỏ
                                Sấm không râu tóc
                                Tuổi bằng lũ nhóc
                                Vẫn được làm ông
                                                 (Sấm)
             Cái bí mật, nhưng rồi cũng không bí mật mà là "giấu sau nụ cười/là cái răng sún" (Bí mật), làm ta bỗng cười vang lên,  như mới tìm được của quí mà thực ra cũng đáng yêu nhường nào. Có một số câu thơ hay của Hoài Khánh, nếu đọc qua có thể ta không gặp, bởi những trải nghiệm cuộc đời mà trong thơ thiếu nhi đã được mã hóa.
                                 Bụng đựng ngàn năm tuổi
                                 Núi vẫn là núi non
                                               (Núi cùng em đi học)
             Cũng là một cái nghiêng đầu của chú bê láu táu với bước chân nhuênh nhoang đang đùa với nắng để rồi "giẫm lên bóng mình". Cái tuổi thơ có thể tròn trịa, nhưng cũng có thể hao gầy, và sự nhí nhảnh để lặp lại mình, chắc rằng ai cũng có.
            Ở bài thơ "Nếu Hải Phòng chỉ toàn người lớn" như một dấu chấm hết cho lứa tuổi trưởng thành, gần cuối tập thơ, nhưng nó cho ta một thông điệp gần như ngược lại. Những qui luật về trẻ- già tưởng như tan biến thì bỗng chốc được nhắc lại như dấu tích của sự luân hồi, buộc ta phải tự hỏi:
                                Nếu Hải Phòng chỉ toàn người lớn thôi
                                Không còn đâu trường Mầm non, Sao sáng
            "Không có ai phá cỗ đêm trung thu", có vẻ như đơn giản như một lời nói, nhưng với người già, như cánh cửa khát vọng đã khóa lại làm người ta liên tưởng tới sự cô đơn cho số phận nhỏ nhoi của đời người. Còn vẽ mặt trăng  có mắt thì chỉ có thiếu nhi mới làm được điều này. sự ngộ nghĩnh ấy làm ước vọng người ta hồi tỉnh, trái tim con người biết yêu và cũng biết lắng nghe...Sự phát triển của xã hội phải có sự hòa trộn của nhiều thế hệ để có sự cân bằng trẻ và già, và già với trẻ cũng là một mắt xích. Trước sự cô đơn người ta hay tự hỏi mà cách hành xử nhiều khi khó hiểu
                             Bác Bảo vệ chẳng có người để mắng
                             Biết tìm ai hái trộm táo ông trồng
            Câu thơ rất giản dị, nhưng lại nhiều suy ngẫm về vấn đề xã hội .
            Sự phát triển hai mặt của một vấn đề, đó không phải là sự bàn cãi mà là sự chấp nhận, vẫn cần phải biết sống chung, đó là thông điệp mà nhà thơ Hoài Khánh muốn gửi lại cho chúng ta về tập thơ này.

TUẤN ANH



Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2011

"Ô CỬA THÁNG GIÊNG" KHÚC TÂM TÌNH CỦA THỜI GIAN

        Sau gần 30 năm từ tập thơ "Cánh võng" do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành, nhà thơ Tuấn Anh mới có cho  mình một tập thơ riêng đầu tiên  "Ô cửa tháng giêng". Đây là tập thơ hội tụ những cảm xúc, tâm sự rất riêng của một nhà thơ ít nhiều gắn bó với thiên nhiên, cây cảnh.
        27 bài trong tập thơ này được tập hợp ở hai phần. Nhà thơ Tuấn Anh cho biết :"Phần thứ nhất gồm 20 bài là những sáng tác mới. cũng có một số bài được chọn đăng trên Tạp chí Cửa biển và một số tờ báo, song nhìn chung là thơ người lớn, thơ về thiên nhiên,  con người...Phần thứ hai chỉ có 7 bài là những sáng tác cách đây khá lâu, được chọn đăng trên các báo trung ương và địa phương cách đây gần 30 năm. Những bài thơ này đã xuất hiện trong tập "Cánh võng" cùng nhiều sáng tác của các nhà thơ khác. Đây là những sáng tác dành cho thiếu nhi.
         Hai phần thơ trong  "Ô cửa tháng giêng"  như thể hiện hai góc nhìn của con người Tuấn Anh. Một Tuấn Anh giầu cảm xúc với thiên nhiên, sống hòa cùng cây cỏ, với những thời khắc giao mùa và một Tuấn Anh đầy tâm sự trẻ trung, gắn bó với những diễn biến tâm lí của thiếu nhi. Thơ Tuấn Anh mượt mà, giàu cảm xúc, suy tư thể hiện qua những vần thơ trong bài  "Mùa muộn", "Mùa thu", "Bên ô cửa mùa hạ", "Ra giêng"...Phần lớn bài thơ trong phần 1 lấy cảm xúc từ các mùa trong năm và những chuyển giao của thời tiết, khí hậu và ngững biến đổi của thiên nhiên tác động đến tâm tư, thìn cảm con người.
        Giọng thơ Tuấn Anh hiền lành, giản dị. Nếu không biết, có lẽ người thưởng thức nghĩ đó là chút suy tư của một cô gái trước những gì đang diễn ra ở thời khắc giao mùa. Có thể nhìn thấy qua  "Mùa đến muộn đàn chim không về/Trễ nải cánh đồng quang liềm/Lúa không giòn thơm vụ/Nhánh mạ non hớt hải ruộng sau..."(Mùa muộn). Thơ anh e ấp như con gái, có lẽ vì thế mà tưng đối đông điệu với phong cách thơ Vũ Thị Huyền. Anh dành tặng một bài thơ  "Hoa cải ngồng trong mưa" cho nhà thơ Vũ Thị Huyền. Tựa đề ấy là tên tập thơ của nhà thơ nữ khá quen thuộc của Hải Phòng. "Nhớ/Chạy về bông hoa cải ngồng/Trong góc vườn mấy không mấy vết chân/Mùa đông trễ gần tới gốc/Bông hoa cải đu đưa..."
         Trong 20 bài thơ của phần 1 có 3 bài được Tuấn Anh viết theo thể thơ văn xuôi. "Khái niện mùa"; "Đêm cuối năm" và "Làm vợ", 3 bài thơ văn xuôi đều chúa chất nỗi lòng băn khoăn, những câu hỏi ẩn sau sự thể hiện bằng ngôn từ. Đọc lên, ai thấy cũng có cái gì đau đáu niềm riêng, chút xót xa, chút cô đơn, buồn tủi:  loá"Lấp loáng trong sắc màu phản quang, ảo giác quyến rũ của đất trời buông thả, em không nhận ra hình dáng chiếc bình hoa  cong cong uốn lượn với đường nét kì dị đến dịu dàng ngày xưa vô tình không để ý" (Khái niệm mùa); "Đêm cuối năm/ Cành đào Nhật Tân đốn đi ba đoạn/Người bán hàng quàn áo mỏng tang lem nhem ba lần hạ giá/Xoay nghiêng /Xoay dọc/ Cành đào vẫn những nụ hoa chúm chím giữa dòng người thưa thớt/ Người bán hàng rã rời , đôi mắt sKè sè cay, đêm đổ xuốn từng mảng lạnh." (Đêm cuối năm);  "Khắc khoải trộn một ít ô mai , trộn một ít bọt bia và khói thuốc/ Em tập quen dần cả bước chân trên nền gạch hoa xám không đều , nơi dấu chân từng lặng im" (Làm vợ).
        Sau những suy tư, tâm sự đầy nỗi niềm, ở phần 2,người đọc được tiếp xúc với một Tuấn Anh trong những vần thơ thiếu nhi cách đây gần 30 năm. Dù là thơ thiếu nhi, song phong cách  sáng tác của Tuấn Anhvẫn trở lại con người anh, hiền lành , giản dị mà đầy tâm tư, "Cô không là ánh sáng/Nhưng trong lòng cô như một bầu trời/Trong lòng cô có cái dìu dịu như ban mai mùa xuân có là gió mát mẻ của mùa thu..." (Cô  giáo em). Gặp lại ở phần thơ này là sự trở lại của những cảm xúc lấy từ thời gian, từ những khoảnh khắc giao thoa của đất trời như trong bài  "Chiều trên bãi biển Đồ Sơn"; "Đàn gà và buổi chiều"...
       27 bài thơ ở  "Ô của tháng giêng" có thể coi như những khúc tâm tình của thời gian , của những thời jhắc gioa mùa mà nhà thơ Tuân Anh muốn gửi đến những ai giầu cảm xúc cũng muốn đắm mình tìm một cõi riêng trong thế giới thơ của anh.

LINH CHI